Xử hành vi xâm hại tình dục như... vi phạm trật tự công cộng!

17:05' 19/04/2019 (GMT+7)
|

 - Những hành vi có tính chất quấy rối tình dục, xâm hại tình dục, nhưng do Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn không quy định rõ về các hành vi này, nên các cơ quan phải vận dụng để xử phạt về hành vi vi phạm trật tự công cộng “nói chung”.

Vấn đề được nêu ra tại phiên họp đánh giá việc thực hiện các kiến nghị của Ủy ban Tư pháp về nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống xâm hại tình dục trẻ em và giải pháp trong thời gian tới, tổ chức ngày 19/4.

Khoảng trống lớn trong pháp luật

Theo Ủy ban Tư pháp, Bộ luật Lao động năm 2012 (khoản 2 Điều 8) quy định nghiêm cấm hành vi “quấy rối tình dục tại nơi làm việc”. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn thế nào là hành vi quấy rối tình dục, các biểu hiện cụ thể của hành vi này. Đồng thời, Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn luật cũng chưa quy định chế tài xử lý đối với hành vi quấy rối tình dục.

Điều đó dẫn đến, khi xảy ra trên thực tiễn, các cơ quan có xu hướng vận dụng Điều 5 Nghị định số 167/2013NĐ-CP của Chính phủ để xử phạt về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng. Nhiều trường hợp sau khi áp dụng Điều 5 Nghị định số 167/2013NĐ-CP để xử lý, dư luận, cử tri, báo chí phản ứng việc áp dụng pháp luật khiên cưỡng, chưa chính xác, nhưng các cơ quan chức năng cũng không tìm được các quy định tương ứng để áp dụng.

Hay Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 146) quy định Tội dâm ô ngưới dưới 16 tuổi. Tại văn bản số 561/KN-UBTP ngày 11/4/2017, Ủy ban Tư pháp kiến nghị TAND tối cao ban hành văn bản hướng dẫn xác định các dấu hiệu của Tội dâm ô. Tuy nhiên, đến nay TAND tối cao chưa ban hành được văn bản hướng dẫn này.

Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 01 của liên ngành tư pháp trung ương được ban hành từ năm 1998 có hướng dẫn về hành vi dâm ô, theo đó là hành vi của người phạm tội tác động vào bộ phận kích thích tình dục của trẻ... Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử của TAND tối cao (tại Hướng dẫn số 329/HS2 ngày 11/5/1967) đối với một số tội phạm xâm hại tình dục định nghĩa “hành vi dâm ô là hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không có mục đích giao cấu nhưng cũng nhằm làm thỏa mãn tình dục của người phạm tội hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó”.

Theo Ủy ban Tư pháp, nhiều chuyên gia cho rằng quy định của Thông tư  01 về “bộ phận kích thích tình dục” rất khó xác định để áp dụng thống nhất. Tuy nhiên, đến nay, Thông tư liên tịch số 01 cũng đã hết hiệu lực, một số cơ quan phản ánh gặp khó khăn khi xử lý một số vụ, việc do chưa có hướng dẫn cụ thể về dấu hiệu của hành vi dâm ô.

Trước thực trạng nói trên, nhóm nghiên cứu của Ủy ban Tư pháp đề nghị TAND tối cao báo cáo việc thực hiện kiến nghị của Ủy ban về việc hướng dẫn các dấu hiệu của Tội dâm ô người dưới 16 tuổi.

“Lý do vì sao đến nay chưa ban hành được? Trên thực tế, Tòa án dựa vào văn bản nào để xét xử Tội dâm ô?” - Ủy ban Tư pháp đặt câu hỏi.

Cũng theo nhận định của Ủy ban Tư pháp, hiện đang có khoảng trống trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại tình dục dẫn đến áp dụng, xử lý khiên cưỡng, thiếu chính xác, mức xử phạt chưa nghiêm.

Ủy ban Tư pháp dẫn chứng, nhiều vụ việc xảy ra trong thời gian qua như: vụ nam công chức ở Triệu Phong, Quảng Trị dùng vũ lực tấn công tình dục nữ đồng nghiệp; vụ dùng vũ lực, dùng tay giữ má nạn nhân để ép hôn trái ý muốn trong thang máy chung cư tại Hà Nội; vụ Thầy giáo chủ nhiệm có hành vi sờ mông, sờ đùi một số học sinh nữ v.v.., các cơ quan có trách nhiệm xử lý đều có xu hướng áp dụng Điều 5 Nghị định số 167/2013NĐ-CP của Chính phủ để xử phạt về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng. Đây là những hành vi có tính chất quấy rối tình dục, xâm hại tình dục, nhưng do Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn không quy định rõ về các hành vi này, nên các cơ quan phải vận dụng để xử phạt về hành vi vi phạm trật tự công cộng “nói chung”.

“Điều này cho thấy khoảng trống lớn trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại tình dục” - Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp Nguyễn Thị Thủy nhấn mạnh. Ủy ban Tư pháp cũng cho biết, hiện chưa có quy trình tố tụng đặc biệt để xử lý tố giác, tin báo và giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Cụ thể, bà Thủy cho biết, báo cáo của các ngành tư pháp đều nêu tính chất đặc biệt của loại án thuộc diện này như: nạn nhân là trẻ em nên khai báo không thống nhất; vụ việc xảy ra chỗ vắng vẻ nên thường không có người làm chứng; hành vi dâm ô ít khi để lại dấu vết; nhiều trường hợp gia đình không hợp tác do sợ ảnh hưởng đến tương lai con cái; khó khăn trong giám định tình dục....

Trong khi đó, báo cáo của Bộ Công an và của VKSND tối cao phản ánh thực tiễn xử lý tố giác, tin báo và giải quyết loại án này thường có khó khăn và có vi phạm như: do nạn nhân và gia đình trình báo muộn nên dấu vết sinh học, dấu vết trên thân thể  nạn nhân bị phân hủy hoặc không thu thập được; việc thu thập chứng cứ, khám nghiệm hiện trường, khám dấu vết trên thân thể, thu thập mẫu vật ban đầu thường chậm; việc giám định chậm; nhiều Điều tra viên, Kiểm sát viên thiếu kinh nghiệm làm việc với trẻ em nên tạo áp lực với các em...

“Tại phiên chất vấn của Quốc hội kỳ họp thứ 5, đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng VKSND Tối cao thống nhất xây dựng quy trình tố tụng đặc biệt giải quyết loại án này; tại văn bản số 561/KN-UBTP ngày 11/4/2017, Ủy ban Tư pháp kiến nghị giao VKSND Tối cao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng quy trình nghiệp vụ cụ thể cho loại án này. Song đến nay, quy trình tố tụng đặc biệt chưa được ban hành. Tại Báo cáo của Bộ Công an, TAND Tối cao (gửi cuộc họp hôm nay) tiếp tục đề nghị Viện KSND tối cao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành ban hành quy trình nghiệp vụ cụ thể.'

Thiếu quy trình giám định đặc biệt

Chưa hết, Ủy ban Tư pháp cũng chỉ rõ việc thiếu quy trình giám định đặc biệt đối với loại án xâm hại tình dục, nhất là xâm hại tình dục trẻ em.

Theo UBTP, Ủy ban này đang tiến hành giám sát việc thực hiện pháp luật về giám định tư pháp và theo báo cáo của các cơ quan, quy trình trưng cầu giám định tình dục đang được thực hiện như sau:

Sau khi nạn nhân hoặc gia đình trình báo sự việc, CQĐT tiến hành lập biên bản lấy lời khai. Sau đó đưa nạn nhân đến cơ sở khám chữa bệnh (thường là các Bệnh viện có chuyên khoa sản) để khám chứng thương.

Sau khi hoàn tất hồ sơ, CQĐT gửi Quyết định trưng cầu giám định pháp y tình dục đến Trung tâm pháp y, thường là muộn vài ngày, có vụ muộn vài tháng, và khi đó hầu như không còn dấu vết của xâm hại tình dục.

Trung tâm pháp y chỉ có thể thẩm định lại các dấu hiệu tổn thương đã được ghi nhận tại các cơ sở chữa bệnh trước đó xem có đúng không. Kết quả này không có tác dụng giúp CQĐT xác định đây có phải là vụ việc xâm hại tình dục hay không.

“Những bất cập trong quy trình trưng cầu giám định tình dục thời gian qua là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giải quyết án, kéo dài thời gian giải quyết, thậm chí dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không đúng tội danh.” - Ủy ban Tư pháp khẳng định.

Trước thực tế nói trên, nhóm nghiên cứu của UBTP đề nghị VKSND Tối cao chủ trì xây dựng quy trình trưng cầu giám định đối với loại án này.

Đáng lưu ý, Ủy ban Tư pháp chỉ rõ, sau Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác bảo vệ trẻ em, ngày 29/8/2018, Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo số 324/TB-VPCP thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 31/10/2018, Bộ Lao động, thương binh và xã hội đã ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ; trong đó có nhiều nhiệm vụ, giải pháp giao cho Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện.

Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần 08 tháng Thủ tướng Chính phủ kết luận (theo Báo cáo của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, ngày 11/4/2019) thì mới có 11 tỉnh, thành phố ban hành văn bản chỉ đạo triển khai Kết luận của Thủ tướng; vẫn còn 52 tỉnh chưa ban hành văn bản chỉ đạo triển khai Kết luận của Thủ tướng, cho thấy sự quan tâm của địa phương đối với công tác này còn chưa thỏa đáng.

Xuân Hưng

Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)