Chỉ số năng lực logistics Việt Nam cải thiện, vẫn đứng sau Singapore và Thái Lan

06:31' 05/11/2018 (GMT+7)
|

Theo Báo cáo “Kết nối để cạnh tranh 2018: Logistics trong nền kinh tế toàn cầu” được Ngân hàng thế giới công bố, Việt Nam xếp hạng 39/160 nước điều tra với điểm số chỉ số năng lực logistics (LPI) được cải thiện đáng kể (3,27/5 điểm), tăng 25 bậc so với xếp hàng 64 năm 2016. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay, nhưng vẫn đứng sau Singapore ở vị trí thứ 7 và Thái Lan ở vị trí thứ 32.

Chi phí logistics ở Việt Nam ở mức cao

Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), những năm gần đây, ngành logistics của Việt Nam có tốc độ phát triển nhanh hơn tốc độ tăng GDP, đạt khoảng 16 – 20% với quy mô khoảng 20 – 22 tỷ USD/năm.

Tuy vậy, theo Báo cáo nâng cao hiệu quả ngành logistics nhằm cải thiện môi trường kinh doanh của nhóm chuyên gia dự án quản trị Nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Viện Nghiên cứu Quản lý kinh  tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện, chi phí logistics ở Việt Nam vẫn ở mức cao.

Nguyên cứu của World Bank chỉ ra rằng, một trong những điểm nghẽn lớn đó là chi phí logistic của Việt Nam chiếm 18% tỷ trọng GDP, cao gần gấp đôi các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%. Tỷ lệ này đã giảm hơn so với trước, nhưng vẫn ở mức cao.

Năm 2014, WB công bố tổng chi phí logistics của Việt Nam là 41,26 tỷ USD, tương đương 20,8% GDP, trong khi Thái Lan là 10,7%, Trung Quốc 15,4%, các nước châu Á Thái Bình Dương (13,5%) và mức toàn cầu là 11,7%. Trong tổng chi phí logistics, chi phí vận tải luôn chiếm tỷ lệ cao nhất. Cụ thể, Việt Nam khoảng 59%, Mỹ khoảng 63,3%, Thái Lan khoảng 53,5%.

Một trong những điểm nghẽ lớn trong ngành logistics đó là chi phí vẫn ở mức cao chiếm 18% tỷ trọng GDP, cao gần gấp đôi các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%. Ảnh minh họa
Một trong những điểm nghẽ lớn trong ngành logistics đó là chi phí vẫn ở mức cao chiếm 18% tỷ trọng GDP, cao gần gấp đôi các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%. Ảnh minh họa

Theo kết quả tổng hợp của Bộ Giao thông Vận tải, hiện có khoảng 25/30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam dưới nhiều hình thức. Trong khi đó, theo Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ ligistics, Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp logistics, trong đó khoảng 1.300 doanh nghiệp tham gia tích cực vào thị trường. Tỷ lệ thuê dịch vụ logistics bên ngoài còn thấp, chỉ chiếm khoảng 35 – 40%.

Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu cung cấp các dịch vụ logistics nội địa như vận tải nội địa, vận tải đa phương thức, dịch vụ cảng biển, cảng hàng không, dịch vụ kho bãi, khai báo hải quan, giám định, kiểm nghiệm, bốc dỡ hàng hóa... Ngoài ra, các doanh nghiệp nội địa đảm nhận một phần dịch vụ logistics quốc tế thông qua việc làm đại lý cho các doanh nghiệp nước ngoài là các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế, các chủ hàng, chủ tàu...

Cũng theo Báo cáo này, hiện các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đảm nhận một phần nhỏ, khoảng 25% thị trường dịch vụ logistics trong nước. Trong khi đó, Việt Nam có khoảng 6.000 nhân viên logistics có trình độ và 1 triệu lao động việc làm trong ngành logistics, và mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu thực tế.

Năng lực logistics của Việt Nam vẫn còn kém nhiều nước trong khu vực

Theo CIEM, hiện xếp hạng về hiệu quả logistics và thuận lợi hóa thương mại của Việt Nam thuộc nhóm giữ trên toàn cầu và trong Asean, nhưng còn cách xa Thái Lan, Malaysia và Singapore.

Cụ thể, theo Báo cáo “Kết nối để cạnh tranh 2018: Logistics trong nền kinh tế toàn cầu” được Ngân hàng thế giới công bố tháng 7/2018, Việt Nam xếp hạng 39/160 nước điều tra với điểm số chỉ số năng lực logistics (LPI) được cải thiện đáng kể (3,27/5 điểm), tăng 25 bậc so với xếp hàng 64 năm 2016. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay. Với thứ hạng này, Việt Nam xếp thứ 3 trong khối Asean (sau Singapore ở vị trí thứ 7 và Thái Lan ở vị trí thứ 32), đứng đầu trong các thị trường mới nổi và xếp hạng cao nhất trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp (trên Indonesia, Philippines và Lào).

Cũng theo Báo cáo LPI 2018, kết quả điểm số LPI quốc tế bình quân của Việt Nam qua 4 kỳ điều tra (2012, 2014, 2016 và 2018) xếp thứ 45 trên thế giới. Trong Asean, Việt Nam đứng vị trí thứ 4 sau Singapore (thứ 5), Thái Lan (thứ 34) và Malayssia (thứ 35), nhưng xếp trên Indonesia, Philippines.

Có thể nói, ngành logistics của Việt Nam đang có nhiều cải thiện. Năm 2018, tất cả 6 chỉ tiêu đánh giá hiệu quả logistics đều có sự cải thiện tốt so với kết quả đánh giá năm 2016. Trong đó, mức tăng cao nhất là Khả năng theo dõi, truy xuất các lô hàng (xếp hạng 34, tăng 41 bậc), tiếp đến là Năng lực và chất lượng dịch vụ logistics (xếp hạng 33, tăng 29 bậc). Các chỉ tiêu khách như Hiệu quả quy trình thông quan xếp hạng 41, tăng 23 bậc; Kết cấu hạ tầng logistics xếp hạng 47, tăng 23 bậc.

Hai chỉ tiêu còn lại là Thời gian giao hàng xếp hạng 40, tăng 16 bậc và Mức độ dễ dàng trong việc thu mua các chuyến hàng với giá cả cạnh tranh xếp hạng 49 tăng 1 bậc so với năng 2016. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cải thiện năng lực của doanh nghiệp thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực logistics, với tỷ lệ từ 15 – 20% vào năm 2015 – 2016 đã tăng lên 40 – 50% vào năm 2017 – 2018.

Cũng theo CIEM, mặc dù xếp hàng chỉ số hoạt động logistics của Việt Nam được cải thiện qua các năm, có thứ hạng cao trong khu vực, nhưng chi phí cho hoạt động logistics tại Việt Nam vẫn ở mức cao so với khu vực và thế giới. Đây được xem là rào cảo đối với các doanh nghiệp Việt Nam và điều này cũng lý giải bởi một số nguyên nhân như cơ sở hạ tầng kém, thiếu kết nối, vận tải đa phương thức chưa phát triển, quy mô doanh nghiệp logistics trong nước quá nhỏ, thủ tục hành chính và nguyên nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu...

Minh Ngọc

 

Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)